Các doanh nghiệp Mỹ không hề biết mình đang làm ăn với các đối tác nằm trong danh sách cấm vận của chính phủ.
Đầu tuần trước, một tổ chức phi chính phủ chống phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt đã công bố một báo cáo gây xôn xao dư luận.
Theo kết quả điều tra do Tổ chức Wisconsin Project on Nuclear Arms Control (WPONAC) đưa ra hôm 4.1, một số công ty Trung Quốc bị Washington cấm vận do bán thiết bị quân sự cho Iran vẫn có thể buôn bán với 42 đối tác Mỹ từ năm 2006 đến nay bằng nhiều “chiêu thức” khác nhau.
Báo cáo này được công bố giữa lúc Mỹ đang kêu gọi áp đặt trừng phạt kinh tế mới đối với Iran vì nước này kiên quyết theo đuổi chương trình hạt nhân gây tranh cãi của mình. “Trong vài năm nay, chúng ta chú ý đến việc thông báo cấm vận hơn là thực thi chúng”, báo cáo viết, đồng thời cảnh báo rằng lệnh cấm vận của Washington đang dần trở thành một “động thái chỉ mang tính biểu tượng”. Tờ Wall Street Journal dẫn lời Giám đốc WPONAC Gary Mihollin, cựu cố vấn của Lầu Năm Góc về các vấn đề vũ khí hạt nhân, cho rằng các cơ quan hữu trách của Mỹ không đủ lực để thực thi những biện pháp cấm vận ngày càng nhiều và phức tạp.
Ve sầu thoát xác
Theo thông tin từ Bộ Tài chính Mỹ, một trong những đối tượng bị cấm vận nặng nhất là Tập đoàn xuất - nhập khẩu máy móc chính xác quốc gia (CPMIEC) của Trung Quốc. Công ty này lần đầu tiên bị đưa vào sổ đen vào năm 1991 do bán công nghệ tên lửa tầm ngắn cho Pakistan và sau đó tiếp tục bị cấm vận vào các năm 2002, 2003, 2006 vì các giao dịch tên lửa với Tehran.
Bằng cách phân tích số liệu các hóa đơn vận chuyển đường biển, WPONAC phát hiện rằng trong giai đoạn 2006-2009, CPMIEC đã xuất gần 300 chuyến hàng đến Mỹ, trị giá hàng triệu USD. Tập đoàn này giao dịch với nhiều công ty Mỹ khác nhau với các chủng loại hàng hóa đa dạng từ mỏ neo, máy khoan đến bộ phận xe hơi và đồ chơi. Trong nhiều trường hợp, CPMIEC đóng vai trò nhà vận chuyển cho một công ty khác nhưng hoạt động này cũng nằm trong danh mục bị cấm.
Hồi tháng 5.2006, một chuyến tàu từ Thượng Hải cập cảng Tacoma, bang Washington để giao hàng là xe bồn cho American Forge&Foundry Inc., một công ty ở thành phố New York. Hóa đơn vận tải ghi bên bán là Công ty xuất nhập khẩu China JMM Thượng Hải Phố Đông, một doanh nghiệp không nằm trong danh sách cấm vận của Mỹ. Tuy nhiên, báo cáo của WPONAC cho hay, công ty này lại có cùng địa chỉ và số điện thoại với CPMIEC Thượng Hải Phố Đông, một công ty con của CPMIEC. Trong một trường hợp khác, Tập đoàn Textron Inc. đã nhập 14 chuyến hàng dụng cụ uốn cong ống nước trong hai năm 2008 và 2009 từ Công ty Kayama Industrial Co. có trụ sở đặt tại Thượng Hải. Kayama đã thuê China JMM Thượng Hải Phố Đông làm nhà vận chuyển cho các chuyến hàng này. Ban quản lý của CPMIEC đã không trả lời thư điện tử của Wall Street Journal yêu cầu phản hồi về các giao dịch nói trên.
Cũng trong năm 2006, Washington ra lệnh cấm vận đối với LIMMT Economic&Trade Co., một công ty Trung Quốc chuyên bán các sản phẩm luyện kim, vì nghi ngờ công ty này đã bán các hợp kim có độ bền cao và vật liệu chế tạo tên lửa cho Iran, theo Bộ Tài chính Mỹ. Hơn 2 năm sau, chính quyền Mỹ mới phát hiện LIMMT đã đứng đằng sau 2 công ty có trụ sở tại thành phố Đại Liên là Ánh Dương và Đông Phương để liên tục bán sắt thép cho Tập đoàn Coastal Flange Inc. ở thành phố Houston. Bộ Tài chính đã bổ sung 2 công ty nói trên vô sổ đen vào tháng 4.2009.
Lưới thưa dễ lọt
Rõ ràng là chính quyền Mỹ không thể quản lý được danh sách cấm vận của chính mình. Chịu trách nhiệm thực thi cấm vận là Văn phòng Quản lý tài sản ngoại quốc (OFAC) trực thuộc Bộ Tài chính. Cơ quan này phải quán xuyến rất nhiều nhiệm vụ phức tạp nhưng nhân sự chỉ có 69 người và ngân sách hoạt động trong năm ngoái là 32 triệu USD, theo AFP. Con số này chỉ bằng giá trị của một máy bay chiến đấu của không quân Mỹ.
Mặt khác, hầu hết các công ty Mỹ không hề biết mình đang làm ăn với các doanh nghiệp bị cấm vận của Trung Quốc, theo WPONAC. Wall Street Journal dẫn lời Giám đốc OFAC Adam Szubin nói ông không nghĩ các doanh nghiệp này đã cố tình vi phạm lệnh cấm vì họ biết rõ hình phạt sẽ rất nặng nề - từ rút giấy phép kinh doanh cho đến phạt tù. Tất cả doanh nghiệp Mỹ đều được cung cấp danh sách cấm vận của chính phủ và dùng phần mềm máy tính để kiểm tra xem tên đối tác của mình có nằm trong danh sách đó hay không. Tuy nhiên qua các trường hợp nói trên của CPMIEC và LIMMT, giới quan sát đánh giá phương pháp này đã hoàn toàn phá sản. Giới hữu trách không thể nào cập nhật kịp thời tất cả công ty con và chi nhánh của các doanh nghiệp bị cấm vận. Phát ngôn viên của các tập đoàn Textron và Kohler đều nói với Wall Street Journal rằng họ không hề biết China JMM Thượng Hải Phố Đông có quan hệ với CPMIEC.
Vấn đề dịch tên tiếng Hoa của các công ty Trung Quốc cũng là một “cái bẫy” đối với doanh nghiệp Mỹ. Những cái tên rắc rối và na ná nhau khiến họ không thể nhận ra mối liên hệ giữa đối tác và một tập đoàn đang bị cấm vận. “Mỗi ngày tôi nhận hàng tá thư mời giao dịch từ Trung Quốc nhưng tôi không tham gia vào âm mưu nào cả. Tôi chỉ muốn làm ăn mà thôi”, Wall Street Journal dẫn lời Chủ tịch Coastal Flange Inc. - Mark Mekeel. Đó là lý do cho đến nay, OFAC chưa phạt công ty Mỹ nào vì vi phạm lệnh cấm cả.
AFP dẫn lời tác giả bản báo cáo của WPONAC Matthew Godsey cho rằng căn nguyên của vấn đề là chính quyền phải làm sao không để bị qua mặt. “Tôi nghĩ lệnh cấm vận của Mỹ chỉ có hiệu quả khi chính quyền thể hiện rõ là nó sẽ được thực thi nghiêm túc”, ông nói.
Nguồn Thanh Niên Online